Thuốc chống dị ứng và sốc phản vệ

03:48:12 11/12/2015        3048 lượt xem

THUỐC CHỐNG DỊ ỨNG

Thuốc chống dị ứng gồm có kháng histamin và một số corticosteroid; corticosteroid được dùng khi có phản ứng viêm phối hợp với dị ứng.

1. Thuốc kháng histamin:

Các thuốc này có tác dụng điều trị các triệu chứng dị ứng như mày đay, ngứa, hắt hơi và chảy nước mũi, viêm kết mạc dị ứng; thuốc cũng được dùng để chữa ngứa trong một số bệnh ngoài da như eczema và để điều trị dị ứng do thuốc, thức ăn, côn trùng đốt, ngoài ra còn dùng để điều trị một số triệu chứng trong sốc phản vệ và phù mạch. Nếu xác định được yếu tố gây dị ứng (kháng nguyên đặc hiệu), phải tránh tiếp xúc và xem xét khả năng giải mẫn cảm.

Các kháng histamin mới (thuốc chống dị ứng thế hệ II), trong thực tế, đều có tác dụng ngang nhau làm nhẹ các triệu chứng của phản ứng dị ứng nhưng khác nhau chủ yếu về thời gian tác dụng và về tác dụng gây buồn ngủ an thần và kháng muscarin. Nhiều kháng histamin cũ có thời gian tác dụng tương đối ngắn, trừ một số (thí dụ promethazin) có tác dụng kéo dài tới 12 giờ, trái lại, đa số kháng histamin mới không gây buồn ngủ và có tác dụng kéo dài.

Tất cả các kháng histamin cũ (thuốc chống dị ứng thế hệ I), đều gây buồn ngủ, nhất là alimemazin (trimeprazin) và promethazin gây buồn ngủ nhiều, trong khi đó clorphenamin (clorpheniramin) và cyclizin có thể ít gây buồn ngủ hơn. Tác dụng gây buồn ngủ này đôi khi được dùng để điều trị ngứa do dị ứng hoặc không do dị ứng.

Các kháng histamin mới không gây buồn ngủ an thần như acrivastin, cetirizin, desloratadin, fexofenadin, levocetirizin, loratadin, mizolastin và terfenadin ít gây buồn ngủ và tổn thương tâm thần – vận động hơn các kháng histamin cũ, vì các thuốc trên rất ít qua hàng rào máu – não. Terfenadin có thể gây loạn nhịp tim nguy hiểm.

2. Các thuốc trong nhóm: 

Promethazin hydroclorid, Loratadin, Cetirizin hydroclorid, Alimemazin, Clorphenamin (Clorpheniramin).

Corticosteroid:

Các corticosteroid như dexamethasonhydrocortison hoặc pred- nisolon, loại bỏ hoặc ngăn chặn được hầu hết cáctriệu chứng viêm do dị ứng. Đường dùng thuốc phụ thuộc vào loại dị ứng. Thí dụ đối với phản ứng dị ứng nhẹ ở da, tốt nhất là dùng kem hoặc thuốc mỡ corticosteroid. Nếu phản ứng ở da không đáp ứng với liệu pháp corticosteroid tại chỗ, lúc đó có thể cần phải dùng loại uống.

Các phản ứng dị ứng nhẹ và ngắn như nổi mày đay hoặc viêm mũi dị ứng thường không cần phải điều trị. Nhưng nếu các triệu chứng kéo dài, dai dẳng, dùng kháng histamin là cách điều trị chính. Tuy nhiên, có thể phải dùng corticosteroid uống trong một vài ngày khi bị nổi mày đay cấp hoặc khi phản ứng nặng ở da, hoặc ở những đợt nặng lên của nổi mày đay mạn, nhưng phải tránh dùng kéo dài. Có thể dùng corticosteroid tại chỗ để giảm viêm trong viêm mũi dị ứng nhưng chỉ được dùng đường toàn thân khi bệnh này làm người bệnh không chịu đựng được.

Các tác dụng có hại khi dùng corticosteroid dài ngày gồm có: làm trẻ em chậm lớn, rối loạn cân bằng điện giải dẫn đến phù, tăng huyết áp, giảm kali máu, loãng xương, gãy xương tự phát, da mỏng, dễ mắc nhiễm khuẩn, rối loạn tâm thần, đái tháo đường.

3. CẤP CỨU TRONG DỊ ỨNG: SỐC PHẢN VỆ

Phản vệ (anaphylaxis) là phản ứng mẫn cảm toàn thân nặng đặc trưng bởi tụt huyết áp hay tắc đường thở đe dọa sinh mạng. Trong đó, bệnh nhân đã có tiếp xúc trước với kháng nguyên. Sốc phản vệ qua trung gian IgE làm đại bào (mast cell) mất hạt, gây phóng thích chất trung gian hóa học (histamin, kinin, leucotriene...).

Sốc phản vệ và phù mạch (phù Quincke) là những cấp cứu nội khoa có thể gây trụy tim mạch và tử vong; đòi hỏi phải điều trị nhanh nếu có phù thanh quản, co thắt phế quản hoặc giảm huyết áp. Côn trùng đốt, một số thức ăn như trứng, cá, lạc… có thể là nguy cơ đối với người mẫn cảm. Các thuốc điều trị đặc biệt dễ gây phản ứng phản vệ gồm có các sản phẩm máu, vaccin, thuốc giải mẫn cảm (allergen, dị ứng nguyên), kháng sinh (đặc biệt penicilin), thuốc tiêm sắt, heparin và các thuốc ức chế thần kinh – cơ. Acid acetylsalicylic và các thuốc chống viêm không steroid khác có thể gây co thắt phế quản ở người mẫn cảm với leukotrien. Trong trường hợp dị ứng thuốc, sốc phản vệ có nhiều khả năng xảy ra sau khi tiêm. Bao giờ cũng phải có các phương tiện hồi sức sẵn sàng khi tiêm loại thuốc có nhiều nguy cơ gây phản ứng phản vệ.

Điều trị hàng đầu một phản ứng dị ứng nặng gồm có epinephrin (adrenalin), duy trì đường hô hấp thông (nếu cần, hỗ trợ hô hấp) và phục hồi huyết áp. Phải tiêm bắp ngay epinephrin (adrenalin) để làm co mạch và giãn phế quản và phải tiêm lặp lại cách 10 phút một lần cho tới khi huyết áp và mạch được ổn định. Nếu có sốc tim mạch kèm theo tuần hoàn kém, phải thận trọng tiêm tĩnh mạch chậm dung dịch pha loãng epinephrin (adrenalin).

Có thể cho một thuốc kháng histamin như clorphenamin sau khi đã tiêm epinephrin (adrenalin) để làm giảm bớt mức độ nặng và kéo dài củatriệu chứng phản vệ và để ngăn chặn tái phát. Cũng cần cho một thuốc corti- costeroid tiêm tĩnh mạch như hydrocortison (tác dụng tuy bắt đầu chậm sau một vài giờ) để ngăn chặn phản ứng nặng lên về sau.

Các điều trị thêm trong sốc phản vệ có thể gồm truyền dịch tĩnh mạch, thở oxygen, tiêm tĩnh mạch thuốc nâng huyết áp như dopamin, tiêm tĩnh mạch aminophylin, hoặc dùng thuốc giãn phế quản dạng tiêm hoặc khí dung như salbutamol.

4. Các bước điều trị trong sốc phản vệ:

1. Thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm

Epinephrin (adrenalin) tiêm bắp

2. Duy trì chức năng sống:

Giữ thông đường hô hấp, cho thở oxygen qua mặt nạ, khôi phục huyết áp (đặt người bệnh nằm phẳng, chân nâng cao).

3Kháng histamin như clorphenamin tiêm tĩnh mạch chậm trong 1 phút.

4Corticosteroid như hydrocortison tiêm tĩnh mạch chậm.

5. Truyền dịch tĩnh mạch: Bắt đầu bằng truyền dung dịch natri clorid 0,9% (0,5 – 1 lít trong giờ đầu).

6Nếu người bệnh có triệu chứng giống hen, cho salbutamol qua phun sương hoặc aminophylin tiêm tĩnh mạch ít nhất trong 20 phút.

Tên thuốc: Epinephrin (Adrenalin)

Ds. Vũ Như Long

Bạn vui lòng chờ trong giây lát...Đang xử lý